Chúng tôi cam kết sản phẩm an toàn vệ sinh thực phẩm!

Vỏ Quế

TÊN LOÀI

- Tên khoa học: Cinnamomum cassia.BL
- Thuộc giống: Cinnamomum
- Họ: Lauraceae
- Tên Việt Nam: cây quế
- Tên địa phương: Quế Thanh, Quế Quỳ, Quế Quảng, Quế Yên Bái, Quế Bì, Mạy quế.
- Tên tiếng Anh: Cinnamon

Việc xác định các loài quế ở nước ta đang có nhiều ý kiến khác nhau, tuy nhiên theo: “Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam” tập II, của các tác giả Võ Văn Chi, Vũ Văn Chuyên, Pham Nguyên Hồng, Lê Khả Kế, Đỗ Tất Lợi, Thái Văn Trừng, ở Việt Nam có các loài quế sau đây:
+ Cây quế Thanh: Cinnamomum obtusifolium. Nees.var Loureirii-Perrot et Ebernh phân bố chủ yếu dọc theo sườn Đông dãy Trường sơn, nhất là phía Bắc Trung bộ từ Thanh Hoá đến Quảng Ngãi.
+ Cây quế Trung Quốc, (quế đơn, quế bì) Cinnamomum cassia B.L, phân bố trong rừng khắp nước ta.
+ Cây quế Sài Gòn Cinnamomum tamala Nees et Eberm phân bố ở Bắc bộ và Trung bộ .
+ Cây quế quan Cinnamomum zeylanicum Blume, phân bố chủ yếu ở vùng cực Nam trung bộ .
Theo quan sát các cây quế và vùng quế cũng như sự phân loài trong nhân dân thì cây quế ở nước ta có 2 loài chính: quế lá to và quế lá nhỏ. Cây quế lá to mọc khá phổ biến có tán rậm, lá to, lớn nhanh nhưng vỏ mỏng và hàm lượng tinh dầu trong vỏ thấp. Cây quế lá nhỏ tán thưa, lá nhỏ, số lượng chiếm khoảng 5 – 10 %, chậm lớn, nhưng vỏ dày và hàm lượng tinh dầu trong vỏ cao hơn quế lá to.


2. MÔ TẢ CÁC LOÀI

Cây quế là loài cây thân gỗ, sống lâu năm, ở cây trưởng thành có thể cao trên 15m, đường kính ngang ngực (1,3m) có thể đạt đến 40cm. Quế có lá đơn mọc cách hay gần đối lá có 3 gân gốc kéo dài đến tận đầu lá và nổi rõ ở mặt dưới của lá, các gân bên gần như song song, mặt trên của lá xanh bóng, mặt dưới lá xanh đậm, lá trưởng thành dài khoảng 18 – 20 cm, rộng khoảng 6 – 8 cm, cuống lá dài khoảng 1 cm. Quế có tán lá hình trứng, thường xanh quanh năm, thân cây tròn đều, vỏ ngoài màu xám, hơi nứt rạn theo chiều dọc. Trong các bộ phận của cây quế như vỏ, lá, hoa, gỗ, rễ đều có chứa tinh dầu, đặc biệt trong vỏ có hàm lượng tinh dầu cao nhất, có khi đạt đến 4 – 5%. Tinh dầu quế có màu vàng, thành phần chủ yếu là Aldehyt Cinamic chiếm khoảng 70 – 90%. Cây quế khoảng 8 đến 10 tuổi thì bắt đầu ra hoa, hoa quế mọc ở nách lá đầu cành, hoa tự chùm, nhỏ chỉ bằng nửa hạt gạo, vươn lên phía trên của lá, màu trắng hay phớt vàng. Quế ra hoa vào tháng 4,5 và quả chín vào tháng 1,2 năm sau. Quả quế khi chưa chín có màu xanh, khi chín chuyển sang màu tím than, quả mọng trong chứa một hạt, quả dài 1 đến 1,2 cm, hạt hình bầu dục, 1 kg hạt quế có khoảng 2500 – 3000 hạt. Bộ rễ quế phát triển mạnh, rễ cọc cắm sâu vào lòng đất, rễ bàng lan rộng, đan chéo nhau vì vậy quế có khả năng sinh sống tốt trên các vùng đồi núi dốc. Cây quế lúc còn nhỏ cần có bóng che thích hợp mới sinh trưởng và phát triển tốt , càng lớn lên mức độ chịu bóng càng giảm dần và sau khoảng 3 – 4 năm trồng thì cây quế hoàn toàn ưa sáng. Tinh dầu quế có vị thơm, cay, ngọt rất được ưa chuộng.


3. PHÂN BỐ QUẾ TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM

3.1 Phân bố quế trên thế giới

Trên thế giới quế phân bố tự nhiên và được gây trồng trở thành hàng hoá ở một số nước châu á và châu Phi như Indonesia, Trung Quốc, Việt Nam, Xrilanca, Xây xen và Madagaxca. Trong các nước có quế, cây quế cũng chỉ phân bố ở một số địa phương nhất định, có đặc điểm khí hậu, đất đai và địa hình thích hợp của nó, ở ngoài vùng sinh thái cây quế sinh trưởng và phát triển không tốt.

3.2 Phân bố cây quế ở Việt Nam

Ở nước ta cây quế tự nhiên mọc hỗn giao trong các khu rừng tự nhiên nhiệt đới ẩm, từ Bắc vào Nam. Tuy nhiên cho đến nay quế tự nhiên đã không còn nữa va thay vào đó cây quế đã được thuần hoá thànhh cây trồng. Từ lâu đời nước ta đã hình thành 4 vùng trồng quế, mỗi vùng có những sắc thái riêng về tự nhiên về dân tộc và nguồn lợi thu được từ quế. Có thể sơ bộ giới thiệu 4 vùng quế ở nước ta đó là:

a/ Vùng quế Yên Bái

Vùng quế Yên Bái tập trung ở các huyện Văn Yên, Văn Chấn, Văn Bàn và Trấn Yên tỉnh Yên Bái. Các khu vực có quế nhiều như Đại Sơn, Viễn Sơn, Châu Quế, Phong Dụ, Xuân Tầm… có diện tích trồng quế và sản lượng vỏ quế chiếm khoảng 70% của cả vùng. Sinh sống trên vùng quế Yên Bái chủ yếu là đồng bào Dao, có nghề trồng quế từ lâu đời. Đặc điểm của vùng quế Yên Bái là vùng rừng núi chia cắt, hiểm trở, nằm phía Đông và Đông Nam của dãy núi Hoàng Liên Sơn, có độ cao tuyệt đối khoảng 300 – 700 m; nhiệt độ trung bình năm là 22,7o C, lượng mưa bình quân năm trên 2000 mm, có nơi như Phong Dụ lượng mưa bình quân năm đạt đến trên 3000 mm; độ ẩm bình quân là 84%. Đất đai phát triển trên đá sa thạch, phiến thạch, có tầng đất dày, ẩm, nhiều mùn và thoát nước. Vùng quế Yên Bái là vùng quế có diện tích quế và sản lượng vỏ quế cao nhất trong cả nước.

b/ Vùng quế Trà Mi, Trà Bồng

Các huyện Trà Mi (tỉnh Quảng Nam) và Trà Bồng (Tỉnh Quảng Ngãi) cùng năm về phía đông của dẫy Trường Sơn. Thượng nguồn phía Tây là đỉnh Ngọc Linh cao khoảng 1500m thấp dần về phía Đông. Vùng quế Trà Mi, Trà Bồng có độ cao khoảng 400 – 500 m; nhiệt độ bình quân năm 22oC, lượng mưa bình quân là 2300mm/năm, ẩm độ bình quân 85%. Đất đai phát triển trên các loại đá mẹ, sa thạch hoặc sa phiến thạch có tầng đất dày ẩm, thoát nước, thành phần cơ giới trung bình. Quế là nguồn lợi và gắn bó với đồng bào các dân tộc ít người như Cà tu, Cà toong, Bu từ lâu đời nay. Các xã như Trà Quân, Trà Hiệp, Trà thuỷ (Trà bồng) Trà long, Trà giác, Trà mai (Trà mi) là các xã có nhiều quế nhất trong vùng.Vùng quế Trà mi, Trà bồng đến nay đã được mở rộng ra các huyện xung quanh như Quế sơn, Phước sơn, Sơn Tây, Sơn Hà.

c. Vùng quế Quế Phong, Thường Xuân

Các huyện Quế Phong, Quỳ Châu (Tỉnh Nghệ An) và Thường Xuân , Ngọc Lạc (tỉnh Thanh Hoá) là một vùng liền giải nằm về phía Đông dẫy Trường Sơn; có vĩ độ từ 19o đến 20o vĩ độ Bắc. Phía Tây thượng nguồn là các dãy núi cao khoảng 1500 – 2000 m án ngữ biên giới Viêt Lào và thấp dần về phía Đông. Vùng quế Quế Phong, Thừơng Xuân kẹp giữa lưu vực sông Chu và sông Hiến; có độ cao bình quân khoảng 300 – 700m. Địa hình chia cắt và đón gió Đông – Nam nên lượng mưa của vùng rất cao trên 2000 mm/năm, nguồn nước dồi dào, nhiệt độ bình quân năm 23,1oC, ẩm độ bình quân là 85%. Thực vật trong vùng đa dạng và phong phú, có rất nhiều loài lâm sản ngoài gỗ có giá trị như song, mây, tre, trúc và các cây làm thuốc, cây cho thực phẩm… Quế Thanh và quế Quỳ là quế tốt vì hàm lượng và chất lượng tinh dầu cao nổi tiếng trong cả nước, đồng bào các dân tộc Thái, Mường, Mán sinh sống trong vùng có nghề trồng, khai thác sử dụng quế từ lâu đời. Những vườn quế, đồi quế ở Châu Kim, Thông Thụ, Thái Vạn Trình, Thắng Lộc đã đem lại nguồn lợi kinh tế và môi sinh cho khu vực.

d. Vùng quế Quảng Ninh

Các huyện Hải Ninh, Hà Cối , Đầm Hoà, Tiên Yên và Bình Liêu (Quảng Ninh) là vùng đồi núi san sát nhau thuộc cánh cung Đông Bắc kéo dài về phía biển. Các dãy núi theo hình cánh cung Đông Bắc – Tây Nam là địa hình chắn gió vì vậy lượng mưa trong vùng rất cao khoảng trên 2300 mm/năm, nhiệt độ bình quân năm là 23oC. Quế được gây trồng trên đai cao khoảng 200 – 400 m. Quế Quảng Ninh là nguồn lợi đáng kể của đồng bào Thanh Y, Thanh Phán sinh sống trong vùng. Các vườn quế đồi quế ở Quảng Lâm, Hoàng Mô, Pò Hèm, Lục Phủ, Quất Động đã nhiều năm cung cấp sản phẩm cho thị trường trong nước và xuất khẩu.
(Hoàng Cầu – giới thiệu các vùng sản xuất quế ở nước ta – thông tin đặc sản Lâm nghiệp 1982)


4. ĐẶC ĐIỂM CẢU HỆ THỐNG SẢN XUẤT QUẾ

4.1 Tầm quan trọng

Trong các loài cây lâm sản ngoài gỗ của rừng nhiệt đới nước ta cây quế có thể tổ chức sản xuất thành nguồn hàng lớn, ổn định lâu dài và có giá trị, nhất là giá trị xuất khẩu. Cây quế là nguồn lợi kinh tế lớn và gắn liền với đời sống của nhân dân các dân tộc ít người nước ta như Dao (Yên Bái), Thái, Mường (Nghệ An, Thanh Hoá) Cà tu, Cà toong (Quảng Nam, Quảng Ngãi) và Thanh Y, Thanh Phán (Quảng Ninh)
Sản phẩm chính của cây quế là vỏ quế và tinh dầu quế được sử dụng nhiều trong công nghiệp y dược, công nghiệp chế biến thực phẩm, hương liệu và chăn nuôi. Xu hướng sử dụng các loại tinh dầu thực vật thay thế các hoá chất có ảnh hưởng đến sức khoẻ con người ngày một tăng rất có lợi cho người sản xuất quế, các địa phương có quế và xuất khẩu quế.

Ngoài lợi ích về mặt kinh tế, cây quế còn đóng góp vào bảo vệ môi trường sinh thái, làm tăng độ che phủ rừng, giữ đất, giữ nước ở các vùng đất đồi núi dốc, bảo tồn và phát triển sự đa dạng các nguồn gen quý cây bản địa – cây quế còn đóng góp vào định canh - đinh cư , xoá đói giảm nghèo tạo thêm công ăn việc làm cho nông dân miền núi nước ta.

4.2 Sử dụng và công dụng

Từ xa xưa nhân dân các dân tộc nước ta đã nhận biết được lợi ích của cây quế và sử dụng quế vào nhiều mục đích. Trước hết quế được sử dụng làm thuốc chữa bệnh, vỏ quế được mài ra trong nước đun sôi để nguội để uống, hoặc trong các bài thuốc có quế để chữa một số bệnh đường tiêu hoá, đường hô hấp, kích thích sự tuần hoàn của máu, lưu thông thuyết mạch, làm cho cơ thể ấm lên. Chống lại giá lạnh và có tính chất sát trùng. Quế được nhân dân coi như một trong bốn vị thuốc rất có giá trị: Sâm, Nhung , Quế, Phụ.

- Theo tác giả Lê Trần Đức trong: “Cây thuốc Việt Nam” trang 263 “… Nhục quế vị ngọt cay tính nóng, thông huyết mạch, làm mạnh tim, tăng sức nóng, chữa các chứng trúng hàn, hôn mê, mạch chạy chậm, nhỏ, tim yếu (truỵ mạch, huyết áp hạ) và bệnh dịch tả nguy cấp…”

Quế Giao chỉ (Quế Việt Nam) trước đây được coi là sản vật quý giá, có giá trị như ngà voi, chim công… sử dụng để làm quà ngoại giao, biếu tặng trong và ngoài nước. Nhân dân Thanh Hoá còn gọi quế địa phương là Ngọc quế Châu Thường. Quế được sử dụng một khối lượng lớn để làm gia vị vì quế có vị thơm, cay và ngọt có thể khử bớt được mùi tanh, gây của cá, thịt, làm cho các món ăn hấp dẫn hơn, kích thích được tiêu hoá. Quế còn được sử dụng trong các loại bánh kẹo, rượu: như bánh quế, kẹo quế, rượu quế được sản xuất và bán rất rộng rãi.
Quế được sử dụng làm hương vị, bột quế được trộn với các vật liệu khác để làm hương khi đốt lên có mùi thơm được sử dụng nhiều trong các lễ hội, đền chùa, thờ cúng trong nhiều nước châu á nhất là các nước có đạo phật, đạo Khổng Tử, đạo Hồi.

Gần đây nhiều địa phương còn sử dụng gỗ quế, vỏ quế để làm ra các sản phẩm thủ công mỹ nghệ như bộ Khay, ấm, chén bằng vỏ quế, đĩa quế, đế lót dầy có quế. Bột quế còn được nghiên cứu thử nghiệm trong thức ăn gia súc để làm tăng chất lượng thịt các loại gia súc, gia cầm.

4.3 Đặc điểm của hệ thống sản xuất quế

Tiềm năng về khí hậu và đất đai để sản xuất quế ở nước ta khá lớn, ở mỗi vùng trồng quế đất đai thích hợp có thể từ 50.000 ha đến 100.000 ha. Phần lớn đất thích hợp để trồng quế còn chưa được sử dụng hoặc đang dùng vào các mục đích khác. Theo điều tra của chúng tôi: xã Đại Sơn (Yên Bái) một xã trồng nhiều quế thì:
Tổng diện tích toàn xã: 8.235 ha
Trong đó: Đất nông nghiệp chỉ có: 51,5 ha
- Đất có khả năng trồng quế là : 2,590 ha
- Đất đã trồng quế 526 ha
Gần đây công tác giao đất, giao rừng cho hộ nông dân ở các vùng quế đang được đẩy mạnh. Mỗi hộ gia đình được giao bình quân 3 – 5 ha, hộ nhiều từ 8 – 10 ha; đất được giao ổn định trong 40 – 50 năm. Khi được giao các hộ đều sử dụng đúng mục đích. Nhiều vùng nương rẫy, đất hoang hoá trước đây đang dần dần phủ xanh bằng cây quế.
- Gây trồng quế là công việc năng nhọc và tốn kém, hiện trường sản xuất ngoài trời; phụ thuộc vào tự nhiên, địa hình vùng núi dốc, giao thông khó khăn. Quế là cây dài ngày, chu kỳ sản xuất ít nhất là 10 – 15 năm mới cung cấp được sản phẩm chính. Quá trình tạo rừng quế có thể chia ra làm 3 giai đoạn: giai đoạn tạo giống và cây con, giai đoạn trồng rừng và giai đoạn chăm sóc và bảo vệ rừng.
- Do hạn chế của nền sản xuất tự cung tự cấp, kỹ thuật canh tác lạc hâu, quảng canh, chủ yếu là lao động thủ công bằng chân tay nên sản xuất quế vẫn nằm trong tình trạng nhỏ bé, phân tán, năng suất chất lượng lao động thấp, kỹ thuật cũng đang dừng lại ở những kinh nghiệm truyền thống.
- Cơ sở vật chất kỹ thuật cho sản xuất quế còn quá nghèo nàn: công cụ sản xuất thô sơ, thiếu thiết bị và cơ sở để chế biến quế, thiếu sân phơi, thiếu kho chứa hàng, thiếu bao gói sản phẩm bởi vậy sản phẩm rất dễ bị mục, mốc, chất lượng không cao.
- Về lao động nhìn tổng thể là thiếu lao động và chất lượng lao động không cao, đặc biệt là lao động thời vụ. Do thiếu lao động và chất lượng lao động thấp nên năng suất lao động không cao, rất hạn chế đến tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật mới trong sản xuất quế.
- Hệ thống kinh tế thị trường trong kinh doanh quế chưa phát triển, chưa gắn kết được sản xuất và thị trường, thông tin thị trường về quế còn yếu và chậm.
- Có nhiều triển vọng hợp tác quốc tế về sản xuất tiêu thụ sản phẩm và nghiên cứu khoa học về cây quế ở Việt Nam.


5. SINH THÁI VÀ KHÍ HẬU

Quế là loài cây thích hợp khí hậu nhiệt đới ẩm, mưa nhiều, nắng nhiều, vì vậy các vùng có quế mọc tự nhiên ở nước ta là vùng có lượng mưa cao từ 2000 mm/năm trở lên, nhiệt độ bình quân hàng năm từ 21o - 23 o C , ẩm độ bình quân trên 80%. Quế sinh trưởng tốt trên đất đồi núi có độ dốc thoải, tầng đất dày, ẩm, nhiều mùn, nhưng phải thoát nước, độ pHKCL khoảng 5 – 6, đất phát triển trên các loại đá mẹ phiến thạch, sa thạch, granít, riolít. Quế không thích hợp với các loại đất đã thoái hoá, tầng đất mỏng, khô, nghèo dinh dưỡng, đất đá ong hoá, đất chua phèn, đất ngập nước và đất đá vôi khô. độ cao thích hợp thường thấy từ 300 – 700m (độ cao tuyệt đối). Nhân dân các vùng có quế cho biết lên cao hơn cây quế có xu hướng thấp lùn, chậm lớn nhưng vỏ dày và có nhiều dầu, xuống thấp hơn cây quế thường dễ bị sâu bệnh, vỏ mỏng và ít dầu trong vỏ, đời sống cây cũng ngắn hơn.

6. KỸ THUẬT LÂM SINH VÀ GÂY TRỒNG QUẾ

6.1 Kỹ thuật về giống:

Cây quế trong rừng tự nhiên thường mọc hỗn giao với nhiều loài cây lá rộng khác như re, gội, bời lời, sau sau, kháo, nhội, mỡ, bồ đề, săng lẻ, bứa… Lúc còn nhỏ cây quế cần có bóng che thích hợp mới sinh trưởng và phát triển tốt, nhưng khi lớn lên quế là cây ưa sáng hoàn toàn. Những cây quế trong rừng có đủ ánh sáng đều có vỏ dầy nhiều dầu, năng suất và chất lượng vỏ cao. Cây quế trồng sau 8 – 10 năm thì bắt đầu ra hoa kết quả. Quế ra hoa vào tháng 4 ,tháng 5 và quả chín vào tháng 1 tháng 2 năm sau, có thể tiến hành thu hái quả chín trên cây hoặc thu nhặt quả chín rơi rụng xung quanh gốc cây mẹ. Hạt quế là loại hạt có dầu, khi bảo quản nếu gặp nhiệt độ cao , ẩm độ thấp, ánh sáng trực diện mạnh thì rất dễ bị chảy dầu và làm mất khả năng nảy mần. Trong tự nhiên sự phát tán của hạt quế do chim hoặc động vật ăn quả và thải hạt qua đường tiêu hoá, có thể rơi rụng và tái sinh xung quanh gốc cây mẹ, cũng có thể phát tán nhờ dòng nước hoặc do con người đem hạt đi các nơi khác để gây trồng.

Quế cũng có khả năng sinh sản vô tính bằng chiết cành giâm hom, nhưng trong sản xuất khả năng tạo giống bằng chiết cành giâm hom còn ít được sử dụng do tỷ lệ hom ra rễ còn thấp và giá thành cây giống cao.
Những cây quế 15 tuổi trở lên bắt đầu sinh trưởng ổn định cho nhiều quả và chất lượng hạt giống ổn định về mặt di truyền. Chu kỳ sai quả thường 2 đến 3 năm 1 lần. Nên chọn những cây sinh trưởng và phát triển tốt , tán rộng, cân đối, không bị sâu bệnh và hàm lượng tinh dầu trong vỏ cao để làm cây lấy giống, vấn đề chọn giống và gây trồng rừng giống là yêu cầu rất cần thiết cho sản xuất quế.

Quế mỗi năm có hai mùa sinh trưởng, mùa sinh trưởng chính vào các tháng 2tháng3 tháng 4 và mùa sinh trưởng thứ 2 trong năm vào các tháng 8 tháng 9. Vào mùa sinh trưởng lượng nước và tinh dầu trong vỏ quế đều tăng lên, vỏ mềm, dễ bóc vỏ ra khỏi thân cây, vì vậy đây cũng là mùa khai thác vỏ quế.

6.2 Gieo ươm quế

Đồng bào Dao, Thái, Mường xưa kia khi yêu cầu cây giống không nhiều, họ chỉ cần đào bứng các cây con tái sinh trong rừng đem về trồng, về sau do yêu cầu cây giống ngày một tăng lên, người ta đã biết lợi dụng quy luật tái sinh tự nhiên bằng cách xúc tiến tái sinh cây giống ngay dưới gốc cây mẹ và nhờ đó đã tạo được nhiều cây giống hơn. Những nơi nhân dân gây trồng nhiều quế, nhất thiết phải thiết lập vườn ươm ở quy mô từ nhỏ đến lớn để gieo ươm quế cung cấp cho các hộ gia đình, một bản, một xã hoặc cả một vùng theo quy hoạch.
Gieo ươm cây quế cũng giống như gieo ươm nhiều loại cây lâm nghiệp khác, phải chọn đất thích hợp, phải có dàn che bóng và có sự điều chỉnh ánh sáng trong quá trình nuôi cây, có sử dụng phân bón và thường xuyên chăm sóc khi cây còn nhỏ như tưới nước, làm cỏ, phòng chống sâu bệnh hại. Hiện nay áp dụng kỹ thuật ươm cây quế giống có bầu đã đem lại hiệu quả cao, cây giống sau một năm gieo ươm thường đạt chiều cao bình quân 30 cm, có 10 – 14 lá, đường kỉnh cổ rễ 0,5 – 0,7 cm.


6.3 Gây trồng quế

Trồng quế là một tập quán phong tục lâu đời của đồng bào các dân tộc Dao, Mường, Ca tu, Ca toong, Bu ở nước ta. Các vườm quế , rẫy quế được coi là tài sản quý giá của từng gia đình , ông bà, cha mẹ để lại quế cho con cháu. Chia đất, chia rẫy cho con trồng quế để chuẩn bị xây dựng gia đình riêng, trồng quế nhân dịp đầu năm mới, tết trồng cây đều là những tập quán tốt. Một năm có hai mùa trồng quế, màu xuân vào các tháng 2tháng 3 và mùa thu vào các tháng 8 tháng 9. Tuỳ vào thời tiết từng vùng, đồng bào Yên Bái tập trung trồng quế vào các tháng đầu xuân, các tỉnh miền Trung trồng vào vụ thu khi đã có mưa nhiều, đất ẩm, thời tiết dịu và để tránh được gió nóng mùa hè.

Quế được gây trồng trong vườn hộ gia đình, xung quanh làng bản, trong các khu công sở, trường học, quế cũng được gây trồng trên nương rẫy, đồi núi tạo thành các vùng quế tập trung có diện tích lớn hơn, đặc biệt trồng quế theo phương thức lâm nông kết hợp, có thể lấy cây ngắn ngày nuôi cây dài ngày và đem lại hiệu quả sản xuất cao hơn.

Mật độ trồng quế phụ thuộc vào cường độ và mục đích kinh doanh, ở những nơi có cường độ kinh doanh cao, có khả năng tận thu hết các sản phẩm trung gian, mật độ trồng có thể đạt đến 10.000 cây/ha; trái lại những nơi có cường độ kin doanh thấp, mật độ trồng quế chỉ có từ 1000 cây đến 2000 cây/ha. Quế có thể trồng bằng cây con không có bầu (cây rễ trần) và cây con có bầu. Trồng quế bằng cây con có bầu thường đạt tỷ lệ sống cao, chủ động được thời vụ và cây trồng có khả năng phục hồi nhanh sau khi trồng.

6.4 Chăm sóc bảo vệ rừng quế

Trong thời gian từ 3 đến 4 năm đầu sau khi trồng quế phải tiến hành chăm sóc. Nội dung của chăm sóc quế là trồng bổ sung những cây đã chết, điều chỉnh ánh sáng thích hợp, loại bỏ các cây cỏ hoang dại lấn át cây trồng và phòng trừ sâu bệnh cho cây trồng. Khi rừng quế đã khép tán cần điều chỉnh mật độ thích hợp cho từng giai đoạn. Công tác điều chế rừng quế đảm bảo cho rừng quế đủ ánh sáng đủ không gian dinh dưỡng để đạt được năng suất và chất lượng sản phẩm cao. Tuỳ theo mật độ trồng, từ năm thứ 6 trở về sau phải tiến hành chặt tỉa thưa, sản phẩm tỉa thưa có thể tân thu vỏ và chưng cất tinh dầu quế từ cành, lá, ngọn. Cần tiến hành phòng chống sâu bệnh hại cho quế, trong trường hợp trồng thuần loại có diện tích tập trung cần đề phòng phát dịch sâu ăn lá quế, sâu đục thân và bệnh rỉ sắt phá hoại quế.
(các tài liệu tham khảo Quy phạm trồng quế – nhà xuất bản Nông nghiệp – 2000; Quy trình trồng quế: Lâm trường quế Văn Yên, Quế Phong, Sở Lâm nghiệp Quảng Nam - Đà Nẵng. Tổng kết kinh nghiệm trồng quế – 1993 Hoàng Cầu.)


7. CÁC VẤN ĐỀ KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ TỔ CHỨC SẢN XUẤT QUẾ

7.1 Các vấn đề về kinh tế xã hội

Trước hết có thể khẳng định tiềm năng về khí hậu, đất đai và nhân lực để sản xuất quế ở nước ta rất dồi dào, cho đến nay vẫn chưa khai thác được nhiều. Hiện nay với chính sách đổi mới của Nhà nước trong phát triển nông lâm nghiệp, cùng với sự nỗ lực của người nông dân, cây quế đang từng bước được khẳng định là loài cây LSNG có giá trị về nhiều mặt: kinh tế, xã hội cũng như môi sinh và bảo tồn nguồn gen quý cây bản địa.
Trong quá trình tuyển chọn cây trồng phù hợp ở các tỉnh miền núi nước ta , cây quế là một trong những cây được người nông dân chú ý gây trồng và phát triển mở rộng. Ngoài 4 vùng quế đã giới thiệu trên đây, nhiều tỉnh khác như Phú Thọ, Tuyên Quang , Lao Cai, Bắc Cạn, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Bình Định, Khánh Hoà và các tỉnh Tây Nguyên cũng đang có kế hoạch phát triển gây trồng quế.

Sau năm 1975 cả nước ta, theo thống kê sơ bộ cuối thập kỷ 70 có khoảng 6000 ha quế, đến cuối thập kỷ 80 đã có trên 10.000 ha và đến nay theo thống kê sơ bộ dã có trên 16.000 ha quế. Về sản lượng vỏ quế, cuối thập kỷ 70 nước ta sản xuất mỗi năm khoảng 1000 tấn vỏ quế khô, cuối thập kỷ 80 đã đưa sản lượng lên khoảng 2000 tấn năm và đến nay đã sản xuất được trên 3000 tấn/năm.

Khi người nông dân đã được giao đất ổn định trong thời gian 50 năm , cây quế đã được gây trồng nhiều trong các vườn hộ. Quế được trồng thuần loại hoặc hỗn giao với nhiều loài cây ăn quả, cây lấy gỗ. Quế nước ta là loại quế có giá trị, rất được ưa chuộng trên thị trường quốc tế; có giá trị xuất khẩu cao liên tục nhiều năm. Với sự khởi sắc của kinh tế hộ gia đình trong những năm gần đây; cùng với sự quan tâm phát triển kinh tế xã hội các tỉnh miền núi, nhất là vùng cao đồng bào các dân tộc thiểu số của nhà nước, cây quế thực sự có nhiều cơ hội đem lại lợi ích thiết thực cho người dân và cả nhà nước.

Bên cạnh những lợi thế để phát triển cây quế vẫn còn những khó khăn như thiếu vốn sản xuất, trình độ dân trí thấp, tập quán canh tác lạc hậu, cơ sở vật chất nghèo nàn, giao thông gặp nhiều khó khăn.

7.2 Tổ chức xản suất quế

Các loại hình trồng quế:

- Quế được gây trồng trong vườn hộ gia đình ( gọi là vườn rừng quế). Đặc điểm của vườn rừng quế là diện tích không lớn từ 1-2 ha nhưng đất đai sử dụng rất có hiệu quả. Hàng năm các hộ có sản phẩm quế để bán, đồng thời tiếp tục trồng bổ sung. Quế được trồng thuần loại, có nhiều cỡ tuổi khác nhau từ nhỏ đến lớn. Lao động để xây dựng vườn rừng quế chủ yếu là lao động trong các hộ, vốn xây dựng do các hộ tự bỏ ra từ tiền bán sản phẩm quế.

Qua điều tra 25 hộ gia đình trồng quế ở Văn Yên, Yên Bái (1993) chúng tôi đã thu thập được các số liệu sau đây:
+ Tổng diện tích các hộ quản lý 181 ha. Trong số đó diện tích đã trồng quế 117,5 ha. ( Vườn rừng quế là 26 ha, rẫy quế là 91,5 ha ). Diện tích rẫy lúa là 63,5 ha và ruộng nước là 12 ha.
+ Tổng số nhân khẩu là 235 người bình quân một hộ là 9 người, số lao động chính chỉ có 69 người
+ Diện tích quế bình quân của mỗi hộ là 4,5 ha
+ Vườn rừng quế bình quân mỗi hộ là 1 ha
Các hộ điều tra trên đây thu nhập chủ yếu từ cây quế, nhiều hộ nhờ có quế mà đã xây dựng nhà kiên cố, sắm được ti vi, xe máy và các thiết bị đắt tiền trong gia đình .

- Trồng quế trên nương rẫy
Trồng quế trên nương rẫy là loại hình trồng quế với quy mô lớn hơn ( có thể gọi là các trang trại quế ) về diện tích tuỳ thuộc đất đai được giao cũng như tiền vốn và lao động của từng hộ, bước đầu có nhiều hộ đã thuê nhân công thời vụ để phát băng, đào hố, khai thác vỏ quế, cũng như vay vốn nhà nước để đầu tư thâm canh

- Gây trồng quế trên nường dẫy mở ra khả năng cung cấp sản phẩn lớn hơn, đồng thời hạn chế được phát nương làm rẫy, chống được xói mòn, cải thiện điều kiện môi sinh .
Trong phương thức trồng quế trên nương rẫy người nông dân đã biết kết hợp trồng xen các cây nông nghiệp trong thời kỳ đầu để tăng thu nhập , lấy cây ngắn ngày để nuôn cây quế dài ngày. Kết quả điều tra ( 1993 ) của chúng tôi đẫ cho thấy mô hình trồng quế kết hợp gieo lúa nương năm đầu có khả năng thu hoạch 45 kg thóc / sào ( 1,2 tấn / ha ). Trồng quế kết hợp với trồng sắn năm đầu thu hoạch được từ 6 đến 8 tấn sắn tươi trên 1 ha. Phương thức nông lâm kết hợp trên đây còn đảm bảo mức độ che bóng cho cây quế mới trồng năm đầu không sử dụng đến các biên pháp che bóng khác.

Về thu nhập của các hộ trồng quế có thể đạt ở mức tương đối cao so với các nghề khác ở miền núi. Qua khảo sát bản Khe Lợ xã Viễn Sơn ( Yên Bái ) 1993 của chúng tôi cho thấy: Đây là bản có nghề trồng quế lâu đời, tổng số là 76 hộ, số nhân khẩu 310 người, nghề trồng quế là chính, ruộng lúa, nương rẫy và chăn nuôi chỉ đủ tự cung tự cấp. Kết quả khảo sát cho thấy

 

Bảng 1. Đánh giá thu nhập từ trồng quế tại tỉnh Yên Bái

Các chỉ tiêu điều tra

Nhóm hộ
Loại 1

Nhóm hộ
Loại 2

Nhóm hộ
Loại 3

- Số hộ trong nhóm
- Tổng thu nhập hàng năm trên 1 hộ.
- Trong đó thu nhập từ quế
- Số lượng vỏ quế bán hàng năm mỗi hộ.
- Bình quân thu nhập đầu người trên năm
- Thu nhập lao động chính trên năm

23
>20 triệu đồng
16 tiệu đồng
2,0 tấn
3,5 triệu đồng
6-8 triệu đồng

32
>15 triệu đồng
10 triệu đồng
1,5 tấn
3 triệu đồng
5-6 triệu đồng

20
10 triệu đồng
6 triệu đồng
0,5 tấn
2 triệu đồng
4 triệu đồng

(Tài liệu Hoàng Cầu, 1993)

Bảng 2. Năng suất và sản lượng vỏ quế

Tuổi cây
(Năm)

D 1,3
(cm)

H (m)

Trọng lượng vỏ khô (kg)

Độ dày vỏ thân
(mm)

5
10
12
15

4,2
11,0
14,0
22,0

4,0
7,0
10,0
11,0

1,0
3,6
5,0
9,0

1,0
1,8
2,0
2,5

(Hoàng Cầu, 1993- 1994)

Về đầu tư cho xây dựng rừng quế, chủ yếu là đầu tư sức lao động. Để xây dựng 1 ha rừng quế cần phải đầu tư các hạng mục chính sau đây:
- Hạt giống 200.000 đồng ( giá 1993 – 1994 )
- Tạo cây giống 50 công .
- Phát don, đốt, trồng cây 150 công
- Chăm sóc – nông lâm kết hợp 150 công
- Bảo vệ 50 công
- Chi phí khác 200.000 đồng
Tổng chi phí cho xây dựng 1 ha rừng quế là 4,4 triệu đồng ( giá tính năm 1993 – 1994 ). Do thu nhập từ quế khá lên nhiều hộ gia đình bước đầu đã chú ý đầu tư thâm canh quế, mua sắm dụng cụ, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất.
( Tài liệu tổng kết kinh nghiệm trồng quế và xây dựng mô hình rừng trồng quế trên đất vườn hộ gia đình vùng phát triển Lâm nghiệp 1993 – 1994 . Hoàng Cầu ).


8. KHAI THÁC CHẾ BIẾN GỖ

Khai thác vỏ quế có từ lâu đời ở nước ta, từ khi còn thu hái tự nhiên trong rừng nhân dân đã nhận biết và tích luỹ dần được những kinh nghiệm cơ bản như mùa vụ, kỹ thuất bóc vỏ, phân loại, kỹ thuất chế biến và bảo quản quế.

8.1 Khai thác vỏ quế

Trên một cây quế có thể tiến hành khai thác một phần vỏ về một phía, sau đó tiếp túc nuôi cây để tiến hành các lần khai thác sau. Phương thức khai thác này thường chỉ được áp dụng cho các cây quế quý hiếm và yêu cầu sử dụng vỏ quế không nhiều.

Trong sản xuất do yêu cầu số lượng sản phẩm nhiều nên thường áp dụng phương thức khai thác toàn bộ vỏ của cây trong một mùa khai thác (Khai thác trắng ) ưu điểm là thu được nhiều sản phẩm, dễ áp dụng. Ngoài ra còn có phương thức khai thác chọn, chỉ khai thác những cây có đường kính cấp kính định trước trong một mùa khai thác, phương thức này thu được sản phẩm theo ý muốn nhưng khó bố trí khai thác, chu kỳ kinh doanh kéo dài.

Ở nước ta một năm có hai mùa khai thác vỏ quế: Vụ xuân vào các tháng 2,3 thời tiết ít mưa, nắng ấm, rất thích hợp cho khai thác, chế biến và bảo quản vỏ quế. Vụ thu vào các tháng 8,9 thường có mưa nhiều, thời tiết âm u, dễ làm cho vỏ quế bị mốc , bị mục ải, vào mùa bóc vỏ, lượng nước và tinh dầu trong vỏ tăng lên làm cho vỏ quế dễ bị bóc ra khỏi thân cây, vỏ không bị gẫy,bị sát lỏng hay bị vỡ. Khai thác vỏ quế thường qua các bước sau đây:
- Chuẩn bị rừng khai thác, bóc thử thăm dò một số cây.
- Bóc vỏ khoanh gốc thường có chiều dài 40 – 60 cm
- Chặt ngã cây
- Bóc vỏ ra khỏi thân cây theo quy cách đã xác định.
Thao tác bóc vỏ cần chú ý để bóc được nhiều khoanh vỏ đẹp hợp quy cách, khi lột vỏ ra khỏi thân cây cần nhẹ nhàng không để lòng thanh quế bị xây xát, hai đầu không bị nứt, không bị thủng nỗ, mắt chết. Vỏ quế khai thác trên một cây thường được chia ra các loại sau đây:
- Vỏ quế bóc ở thân cây: Đoạn cách gốc 1m đến nơi cây tỉa cành,vỏ
dày, lượng dầu trong vỏ cao, vỏ thẳng đẹp ít bị thủng do mắt chết, ít cong vênh. Nhân dân thường gọi là vỏ quế Trung Châu, là loại vỏ quế tốt nhất.
- Vỏ quế bóc từ ngọn cây và các cành lớn thường gọi là quế Thượng, vỏ thường bị cong vênh, có nhiều lỗ thủng do mắt cành, hàm lượng tinh dầu trong vỏ cũng thấp hơn vỏ quế Trung châu.
- Vỏ quế hạ căn là vỏ bóc từ đoạn thân sát gốc, đặc điểm là vỏ dày, nhưng hàm lượng tinh dầu thấp, lớp biểu bì bên ngoài dầy và cong vênh.
- Vỏ quế chi: Là vỏ quế bóc từ những cành nhỏ của cây.
Quế trồng sau sáu, bảy năm đã tiến hành khai thác tỉa thưa, với chu kỳ khai thác 15 năm cần phải tiến hành khai thác tỉa thưa 2 – 3 lần để điều chỉnh mật độ thích hợp. Sau 15 năm rừng quế đã có thể tiến hành khai thác chính được, tuy nhiều sản phẩm tỉa thưa chủ yếu dùng vào công nghiệp chế biến thực phẩm và hương liệu. Các loại quế tốt dùng để làm thuốc chu kỳ khai thác thường kéo dài trên 20 năm.

8.2 Kỹ thuật chế biến vỏ quế.

Tuỳ theo chất lượng và quy cách sản phẩm vỏ quế khác nhau mà kỹ thuật chế biến cũng khác nhau như quế kẹp, quế chống (Quảng Nam, Quảng Ngãi) quế Thanh (Thanh Hoá), quế Quỳ (Nghệ An) kỹ thuật chế biến rất tỉ mỉ và công phu. Để chế biến được quế tôt dùng vào mục đích làm thuốc chữa bệnh phải tốn nhiều công sức từ việc chọn cho được cây quế tốt, xác định vị trí và quy cách lấy vỏ, bóc vỏ, xử lý vỏ, ủ vỏ, tạo giáng đẹp; tẩm và phơi khô thường mất từ 15 đến 20 ngày. Để tạo giáng đẹp cho thanh vỏ quế, trước khi cho thanh quế lên bàn kẹp để uốn hình, vỏ quế thường được ủ 3 – 4 ngày cho vỏ dai, mềm dễ uốn, tinh dầu trong vỏ đã tương đối ổn định. Trong khi ủ không để lòng thanh quế bị ẩm mốc, có nơi nhân dân thường dùng rượu hoặc cồn lau sạch lòng thanh quế. Bàn kẹp gồm một số thanh tre hoặc gỗ dùng để uốn thanh quế thành hình theo ý muốn. Trong quá trình tạo hình giáng vỏ quế được phơi nơi khô ráo thoáng gió, tránh ánh nắng trực diện hoặc tránh nơi có nhiệt độ cao, khi phơi lòng thanh quế úp xuống phía dưới để hạn chế sự bay hơi của dầu. Quá trình phơi thường kéo dài tròng 8 – 10 ngày, bàn kẹp luôn luôn phải siết chặt đẻ giữ cho thanh quế theo hình định uốn. Khi vỏ quế đã khô và định hình thì tháo bàn kẹp ra, tu sửa lại thanh quế, phân loại và đem bảo quản. Có nơi nhân dân vát hai đầu thanh quế lộ ra phần nhục quế hoặc dùng sáp ong để bịt hai đầu thanh quế. Quế được bảo quản trong hộp kẽm hoặc trong các hòm gỗ có bọc nhiều lớp vải mỏng và mềm, làm như vậy có thể bảo quản được quế rất lâu không bị mất dầu và mùi vị.

Chế biến vỏ quế gia vị dùng vào chế biến thực phẩm thường đơn giản hơn, nhưng khối lượng rất lớn có khi lên hàng trăm tấn trong một mùa vụ hay một năm. Vỏ quế bóc xong , đem phơi khô, phân loại và đóng vào các hòm gỗ có bọc túi polytylen hoặc giấy hút ẩm. Yêu cầu chính là quế không bị mốc, không bị mất mùi vị, đảm bảo các tiêu chuẩn về thực phẩm. Bảo quản nơi khô ráo, nhiệt độ thích hợp, không để quế lẫn xăng dầu, hoá chất, nước mắm, cá…

Tinh dầu quế được chế biến từ vỏ, lá, cành ngọn trong quá trình khai thác. Thiết bị chưng cất tinh dầu thường dùng hiện này là các thiết bị cất bằng hơi nước, hiệu suất nhìn chung còn thấp: 100 kg vỏ quế thường cất được khoảng 2 lít tinh dầu; 1000kg cành , lá, ngọn quế cất được khoảng 1 lít tinh dầu. Hàm lượng Aldehuyt Cinamic trong tinh dầu lá thường chỉ đạt 60 – 70 %.
Để nhận biết chất lượng quế tốt hay không thường căn cứ vào các chỉ tiêu: Hàm lượng tinh dầu; hàm lượng Aldehyt cinamic, độ dày của vỏ, kích thước và trọng lượng, mùi vị đặc trưng, lóp nhục quế, hình dạng thanh quế. Trong nhân dân có nơi còn mài quế với nước đun sôi để nguội để xem màu sắc (bạch quế hay quế đỏ) ăn thử để phân biệt quế đắng hay ngọt, lớp nhục quế dày hay mỏng và nguồn gốc xuất xứ của quế.
(Tài liệu tham khảo: Nghiên cứu kỹ thuật khai thác và sơ chế vỏ quế 1993 – 1995 – Hoàng Cầu – Nguyễn Hữu Phước).


9. BUÔN BÁN VÀ THỊ TRƯỜNG QUẾ

Sản phẩm quế ở nước ta là mặt hàng được buôn bán từ lâu đời, sự hình thành thị trường quế từ nhỏ đến lớn là do nhu cầu sản phẩm quế ngày một tăng của thị trường trong và ngoài nước. Tiêu thụ quế trong nước không nhiều, đại bộ phận quế ở nước ta được xuất khẩu ra nước ngoài. Quế Cassia Việt Nam vỏ dày, nhiều dầu rất được ưa chuộng trên thị trường quốc tế và bán được giá cao hơn loại quế Cinamom của một số nước khác.
Trước đây quế là mặt hàng do Nhà nước thống nhất quản lý, Nhà nước giao chỉ tiêu sản xuất cho các địa phương, các doanh nghiệp quốc doanh sản xuất quế, từ đó Nhà nước thu mua theo giá quy định và xuất khẩu sản phẩm quế. Từ cuối thập kỷ 80 đến nay, mặt hàng quế chuyền dân sang cơ chế thị trường. Sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế vào lưu thông và xuất khẩu quế, bước đầu đã kích thích được gây trồng, tiêu thụ sản phẩm nhanh hơn, thuận lợi hơn và giá cả cũng linh hoạt hơn. Tuy nhiên cho đến nay giữa người sản xuất quế và khâu lưu thông, buôn bán và xuất khẩu vẫn chưa có mối quan hệ gắn bó, giúp đỡ để chia sẻ trách nhiệm. Vì vậy người sản xuất vẫn còn nhiều thiệt thòi về giá, khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm khi thị trường quế biến động.
Quế là cây dài ngày vì vậy để nâng cao sản lượng đòi hỏi phải có thời gian . Nhiều năm trước đây do sức ép của thị trường tăng lên trong khi đó khả năng cung cấp tài nguyên bị hạn chế, dẫn đến rừng quế bị khai thác kiệt quệ, làm ảnh hưởng đến sản xuất và môi trường khu vực. Tình hình cung cấp và tiêu thụ quế trong nước những năm gần đây đã được nâng lên về số lượng, tuy nhiên tổ chức thị trường quế trong nước chưa được hợp lý, còn manh mún, có nhiều đơn vị không đủ tiêu chuẩn kinh doanh mặt hàng quế cũng nhảy vào cuộc. Công tác thông tin thị trường thiếu và yếu, công tác tiếp thị và mở rộng thị trường quế chưa được đẩy mạnh, vì vậy tiêu thụ quế cho người nông dân gặp nhiều khó khăn, bị ép giá, giảm giá.
Các nước nhập khâu quế nước ta trước đây chủ yếu là các nước xã hội chủ nghĩa, các nước Trung Đông như: Liên Xô cũ, Ba Lan, Tiệp, Bungari, IRắc, ARập.. Những năm gần đây quế nước ta xuất khẩu sang các nước châu á và các nước phương Tây như: Nhật, Đài Loan, Hàn Quốc, Hồng Kông, Anh, Mỹ, Đức…. Về giá xuất khẩu khá ổn định trong nhiều năm, quế cassia bình quân bán được 2000 dollar trên 1 tấn vỏ khô, giá bán vỏ quế khô của người sản xuất khoảng 12 triệu đồng Việt Nam một tấn. Có thể tham khảo các số liệu sau đây.

a/ Giá thu mua vỏ quế khô ở Văn Yên (Yên Bái)

Bảng 3. Giá thu mua vỏ quế khô tại Yên Bái (Đơn vị tính 1.000 đ/kg)

Vỏ quế

Năm

1990

1991

1992

1993

1994

1995

1996

1997

1998

Bình quân

Loại I

3,5

5,0

11,0

11,0

15,0

20,0

18,0

16,0

14,0

12,0

Loại II

3,0

4,0

9,5

9,0

13,0

16,0

15,0

14,0

12,0

10,6

Loại III

2,8

3,0

6,0

7,0

11,0

14,5

13,0

12,0

10,0

8,8

(Nguồn tài liệu: Công ty ngoại thương Văn Yên)

 

b/ Số lượng vỏ quế xuất khẩu củaViệt Nam 1994 – 1997

Bảng 4. Số lượng vỏ quế xuất khẩu Việt Nam 1994 - 1997

Năm

Lượng xuất
(tấn)

Tiền
(1000 USD)

Đơn giá
(USD/tấn)

1994

2.622

5.127

1.955

1995

6.356

7.259

1.142

1996

2.066

5.518

2.671

1997

3.231

7.100

2.197

Nguồn tài liệu : Tổng cục Thống kê

c/ Thị trường xuất khẩu quế chủ yếu của Việt Nam

Bảng 5. Thị trường và khối lượng xuất khẩu quế của Việt nam

Nước nhập khẩu

                          Từ 1994 - 1996

Lượng
(tấn)

Tiền 
(1000 USD)

Tỷ trọng
Thị trường%

Đài Loan

2.819

4.672

26,1

Hàn Quốc

1.803

3.947

22,0

Nhật

2.536

2.114

11,8

Mỹ

454

1.475

8,2

Hà Lan

923

1.052

5,9

Singapo

799

1.187

6,6

Đức

324

336

1,9

Hồng Kông

238

685

3,8

Hungary

413

893

5,0

Bungari

180

412

2,3

Thái Lan

115

211

1,2

Ba Lan

231

191

1,1

Trung Quốc

54

73

0,4

Anh

31

22

0,1

Nguồn tài liệu: Tổng cục Thống kê


10. CÁC CHÍNH SÁCH VÀ QUY ĐỊNH

10.1 Các quy định, khuyến khích của Chính phủ

Nhận thức được sản xuất quế ở nước ta đóng góp vào phát triển kinh tế xã hội vùng núi, nhất là một số vùng núi cao đồng bào các dân tộc thiểu số; đồng thời cây quế là cây có giá trị xuất khẩu truyền thống; trong nhiều năm Nhà nước và chính quyền các cấp địa phương đã có nhiều chính sách để phát triển cây quế như sau:
- Chính sách giao đất , giao rừng ổn định trong nhiều năm để nhân dân phát triển gây trồng quế.
- Các chính sách ưu tiên phát triển kinh tế xã hội miền núi, định canh định cư; trong đó chú ý phát triển cây quế những vùng thích hợp.
- Hỗ trợ nông dân về mặt kỹ thuật , giống để hộ gia đình phát triển gây trồng quế.
- Mở các lớp tập huấn , cho đi tham quan vùng trồng quế , khen thưởng những hộ sản xuất quế giỏi.
- Khuyến khích các địa phương xây dựng quy hoạch và kế hoạch phát triển sản xuất quế.
- Khuyên khích và mở rộng khâu buôn bán lưu thông sản phẩm quế.
- Bố trí lại lao động, tăng cường lao động cho các vùng sản xuất quế.

10.2 Đầu tư của Chính phủ

Đầu tư cho quế của Chính phủ thông qua các chương trình sau:
- Phát triển kinh tế xã hội miên núi, trong đó có các vùng gây trồng quế.
- Đầu tư để xóa đói giảm nghèo bằng phát triển sản xuất các cây con có giá trị kinh tế.
- Đầu tư trong các chương trình định canh định cư.
- Đầu tư gây trồng quế trong chương trình trồng 5 triệu ha rừng.
- Đầu tư cho vay vốn đối với các dự án trồng quế của hộ gia đình, của địa phương và các tổ chức kinh tế khác.

Tuy nhiên các chính sách phát triển sản xuất quế còn thiếu đồng bộ, chưa đủ mạnh, vốn đầu tư còn quá ít ỏi lại bị phân tán và hiệu quả thấp. Tập quán sản xuất của đồng bào vẫn còn lạc hậu, trình độ dân trí thấp, kinh tế thị trường chưa phát triển là những rào cản trong quá trình phát triển sản xuất quế.

11. Các tổ chức tham gia khác.

Như phần đầu đã xác định tiềm năng về khí hậu, đất đai và lao động để phát triển cây quế ở Việt Nam rất dồi rào; nếu có sự can thiệp giúp đỡ của các nhà tài trợ, các tổ chức phi chính phủ,các tổ chức nghiên cứu và tư nhân nhất định sẽ có những bước phát triển vững chắc, mang lại lợi ích cho cộng đồng và xã hội.

12. Phân tích các vấn để chủ yếu

12.1 Các vấn đề về nghiên cứu

- Các vấn đề nghiên cứu về giống và chọn giống quế, xây dựng rừng giống quế. Xác định loài, nguồn gen quý hiếm, bảo tồn.
- Nghiên cứu các mô hình thâm canh quế.
- Nghiên cứu về thị trường và thông tin thị trường quế.
- Nghiên cứu xây dựng các chính sách nhằm phát triển sản xuất quế.

12.2 Các vấn đề khác

- Công tác quy hoạch tổng thể, phân vùng lập luận chứng kinh tế kỹ thuật phát triển sản xuất quế.
- Tổ chức lại sản xuất các vùng quế
- Vốn đầu tư cho phát triển sản xuất quế
- Xây dựng các cơ sở chế biến và bảo quản quế
- Củng cố hệ thống lưu thông phân phối và buôn bán quế trong cả nước.
- Mở rộng và phát triển thêm các sản phẩm từ cây quế.


13. Người và các tổ chức làm việc với loại sản phẩm này

- Chính quyền từ trung ương đến địa phương sản xuất quế
- Các tổ chức nghiên cứu có liên quan đến cây quế
- Người sản xuất quế
- Các tổ chức tài trợ, các tổ chức phi chính phủ, tư nhân và các nhà nghiên cứu quan tâm tới quế.
- Các tổ chức buôn bán quế.
- Các tổ chức, đơn vị và cá nhân tiêu thụ và sử dụng sản phẩm quế….

14. Các tài liệu tham khảo chủ yếu

1. Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn . Đề án phát triển vùng cây lâm đặc sản gắn với công nghiệp chế biến. Thời kỳ 1997-2005. (dự thảo)

       10. Hoàng Cầu (2000). Hiện trạng và định hướng phát triẻn cây quế. Thông tin chuyên đề số 7/2000. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

        11. Lê Trần Đức (1997). Cây thuốc Việt Nam. Nhà Xuất Bản Nông Nghiệp.

       12. Võ Văn Chi, Vũ Văn Chuyên, Phạm Nguyên Hồng, Lê Khả Kế, Đỗ Tất Lợi, Thái Văn Trừng (1971). Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam. NXBKHKT.

2. Cục lưu trữ. Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn (2000). Tiềm năng thực tế và tiêu thụ quế ở Việt Nam.

3. Công Ty Lâm Đặc Sản Xuất Khẩu( 1986. Dự án kinh doanh cây quế cho xuất khẩu 1986-1995.

4. Hoàng Cầu (1993). Phân vùng sinh thái và mở rộng trồng quế ở nước ta. Tạp chí lâm nghiệp số 4/1993: 12.

5. Hoàng Cầu ( 1982). Giới thiệu các vùng sản xuất quế ở nước ta. Thông tin đặc san lâm nghiệp tháng 1/ 1982: 31.

6. Hoàng Cầu, Nguyễn Hữu Phước (1993). Nghiên cứu kỹ thuật khai thác và sơ chế vỏ quế. (Phân viên nghiên cứu Đặc sản rừng)

7. Hoàng Cầu (1993-1994). Tổng kết kinh nghiệm trồng quế và xây dựng mô hình ttrồng quế trên đất vườn rừng hộ gia đình vùng phát triển lâm nghiệp. Trung tâm phát triển kỹ thuật Phù Ninh.

8. Hoàng Cầu (1993). Kỹ thuật khai thác và chế biến vỏ quế. Tạp chí lâm nghiệp số 10, 1993

9. Hoàng Cầu ( 1999-2000). Nghiên cứu su hướng phát triển thị trướng sản phẩm quế phục vụ xây dựng phát triển nông thôn miền núi phía Bắc Việt nam . Đai học Lâm Nghiệp.

 
 
Liên kết nhanh:

FACEBOOK


 

 

HỖ TRỢ ONLINE


Mr Minh (0914 567 257)


  Mrs Thúy (0911 677 275)


  Mr Chương

LỊCH ÂM Dương


LƯỢT XEM


Bộ đếm

LIÊN KẾT NHANH


 

Loading...